Truyền thuyết - Giai thoại - Mại vô - Mại vô

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Truyền thuyết - Giai thoại - Mại vô - Mại vô

Bài gửi by warmoger on 23/10/2009, 11:26

Truyện 1:

Bốn anh tài


Ngày xưa có hai vợ chồng nhà nghèo không con. Hai vợ chồng khấn vái hết đền này đến chùa khác, mãi sau mới sinh được một mụn con trai. Thằng bé lớn lên như thổi. Nhưng càng lớn, hắn càng ăn rất tợn: bung kia, chảo nọ nấu lên bao nhiêu cũng vợi. Hai vợ chồng cố sức làm lụng để nuôi con nhưng nuôi không nổi. Trong nhà có vật gì đáng tiền, họ đều bán sạch để cho con chèn dạ dày. Sau rồi hai vợ chồng nghĩ chỉ có cách cho con đi tha phương cầu thực mới đỡ khốn vì nó. Một hôm, người cha gọi con lại, bảo rằng:

- Nay con đã khôn lớn mà cha mẹ gần đất xa trời, yếu đuối không làm gì được để nuôi con. Ngày xưa lúc nhà ta còn khá giả, có hoàng đế Trung Quốc vay vàng và bạc đến 70 vạn lạng. Bây giờ con tìm cách sang bên đó đòi lấy mà ăn.

Nghe nói, người con vâng lời đi ngay. Chàng cứ dọc bờ biển đi lần về phương Bắc. Một hôm, đến một xứ kia, bỗng gặp một người khổng lồ đang tát biển, anh chàng tiến lại hỏi:

- Anh làm gì đấy?

Khổng lồ đáp:

- Tôi tát cạn biển, để tìm vàng ngọc dưới đó.

- Sức lực một mình làm sao mà tát cạn được.

- Ta có sức khoẻ không ai bì kịp. Anh cứ thử lại xách gàu của ta xem.

Nhưng khổng lồ lấy làm lạ vì hắn cũng nhấc nổi cái gàu của mình, bèn mời về nhà kết nghĩa anh em. Anh chàng bèn rủ:

- Anh hãy đi theo tôi đòi nợ vua Trung Quốc lấy tiền ăn tiêu ngay, còn như tát biển thì chờ lúc nào về, lại sẽ tiếp tục.

Khổng lồ nghe bùi tai, liền cùng nhau ra đi.

Một hôm, họ đi đến một hòn núi. Thấy một anh chàng trẻ tuổi ngồi trên một tảng đá lớn có vẻ nhàn hạ, hai người tiến đến hỏi hắn làm gì mà ngồi đấy. Hắn đáp:

- Ta ngồi đây thỉnh thoảng lại thổi một hơi làm cho ngã cây ngã cối đưa về làm củi.

Nghe nói lạ, hai người bảo anh làm thử cho xem. Quả nhiên hắn vừa phùng má thổi một hơi thì cây cối ở trước mặt tự nhiên ngã rạp xuống như bị một trận bão nặng nề. Hai người bảo anh rằng:

- Bác có tài thế sao không đi khắp thiên hạ làm cho nổi tiếng một phen chứ lại sống chui rúc ở xó rừng này làm gì? Thôi! Bác hãy cùng chúng tôi đi đòi nợ vua Trung Quốc, ngó chừng còn thú vị hơn ở đây!

Anh chàng nghe nói bằng lòng ngay. Rồi đó cả bọn cùng lên đường.

Mười ngày sau, bọn họ lại đến một khu rừng khác. Thấy từ trong rừng sâu tiến ra một người cao lớn, vai gánh một đôi voi đi như bay. Cả bọn kinh phục, vội gọi giật lại hỏi:

- Bác gánh voi đi đâu đó?

- Tôi hàng ngày vào rừng tìm voi mà bắt. Bắt được con nào thì trói giò lại gánh về rữa thịt lấy một hai cây ngà bán kiếm tiền ăn tiêu.

Cả bọn bảo:

- Thôi! Sức khoẻ như thế tội gì cặm cụi trong rừng cho khổ. Hãy đi với chúng tôi đòi nợ vua Trung Quốc về chia nhau ăn đi.

Nghe nói, anh chàng vừa ý vội bỏ voi lại nói:

- Ừ! thì đi.

Đến kinh đô Trung Quốc, bốn chàng tìm đến hoàng cung. Một toán lính gác cổng cản lại không cho vào. Cả bọn nổi xung lên, nói:

- Bọn tao sang đây đòi nợ chứ có phải chơi đâu mà không cho vào.

Và họ toan giã cho chúng một trận, nhưng anh chàng ăn khoẻ cản lại rồi viết một bức thư đòi nợ, bảo tên lính đem vào cho vua. Hoàng đế Trung Quốc đọc xong lấy làm lạ, liền sai một viên cận thần ra xem thử người nào mà to gan đến như thế. Viên cận thần ra một lát, trở vào tâu rằng:

- Có bốn tên dị hình dị dạng ở nước An Nam sang, đứa nào cũng quyết đòi nợ được mới về. Chúng nó toan đánh cả lính.

Hoàng đế nghe nói không vui, nhưng cũng truyền dọn yến đãi đằng tử tế trước khi gặp họ.

Bốn chàng được mời vào một phòng riêng ăn uống nghỉ ngơi trong vòng vài ba ngày. Nhưng họ ăn uống hung quá đến nỗi qua ngày thứ ba mấy viên quan trông nom về ngự thiện phải vào báo với vua rằng kho thức ăn của hoàng đế vì việc tiếp đãi bốn người khách lạ đã vơi hết già nửa. Hoàng đế nghe nói giật mình, vội bảo mấy viên đại thần tìm cách ám hại họ đi cho khỏi phiền. Người ta được lệnh mời bốn chàng đi thuyền chơi hồ thì đánh đắm cho chết đuối tất cả.

Quả nhiên bốn anh em không ngờ sa vào mưu gian bị chìm xuống nước. Nhưng giữa lúc nguy cấp thì anh chàng khổng lồ nắm lấy chiếc thuyền như một chiếc gầu rồi tát lấy tát để. Chỉ trong một chốc, đáy hồ khô cạn, cứu ba người kia khỏi chết đuối.

Thấy họ sống yên lành, hoàng đế tức giận, vội sai dọn yến tiệc khoản đãi, rồi chờ lúc họ no say mới sai mấy đội quân xông vào vây chém. Hôm ấy, bốn chàng vô tình cùng nhau chén tạc chén thù không nghi ngờ gì cả. Bỗng nhiên một tiếng hô vang, phục binh xông ra như kiến. Cả bọn toan chạy, anh chàng thổi khoẻ đã ngăn lại mà rằng:

- Các anh cứ để yên, để tôi cho bọn chúng xiêu dạt một phen!

Nói rồi, phùng má thổi mấy hơi, bọn lính chịu không nổi với sức gió, bay văng đi như những chiếc lá khô. Thế rồi ở trong này, bốn chàng vẫn cứ ung dung ngồi chén tì tì cho đến mãn tiệc.

Lần này hoàng đế Trung Quốc lo lắng hết sức. Vua sai triệu các vị cơ mật đến tính cách đối phó. Nhưng mọi người khuyên vua nên trả quách đi cho êm chuyện. Vua nói:

- Bảy mươi vạn lạng thì nhiều quá. Các khanh có cách gì bắt chúng giảm bớt được không?

Một viên quan tâu lên:

- Bệ hạ cứ bằng lòng trả, nhưng bắt các thần dân, các thuyền bè xe cộ, khắp trong nước không ai được gánh thuê chở thuê cho chúng và bắt chúng nó không được chuyên chở nhiều lần. Như thế dù có sức như Hạng Vũ cũng chỉ mang ra được chừng dăm bảy trăm cân là hết nước.

Vua bằng lòng theo cách đó. Đến ngày nhận vàng bạc, người ta thấy một mình anh chàng gánh voi quảy hai sọt lớn vào kho. Chúng không ngờ chỉ một người đó mà thôi, đã thừa sức gánh 70 vạn lạng. Bọn quan coi kho không biết làm thế nào, đành cắm đầu cân lấy cân để, vơi hẳn cả kho bạc.

Được của, bốn anh chàng cúi chào hoàng đế rồi ung dung đi ra khỏi cung. Về nước, họ chia nhau tiêu xài sung sướng trọn đời.

[ Sưu tầm ]

warmoger
Cống hiến
Cống hiến

Tổng số bài gửi : 133
Join date : 24/09/2009
Age : 31
Đến từ : Nơi bác ra đi

Về Đầu Trang Go down

Re: Truyền thuyết - Giai thoại - Mại vô - Mại vô

Bài gửi by warmoger on 23/10/2009, 12:06

Truyện 2:

Sự tích Đền Bà Đế - Đồ Sơn


Vào những năm 1700, ở phía đông - nam vụng Ngọc - Đồ Sơn có đôi vợ chồng trẻ họ Đào, suốt 20 năm chung sống, tuy làm ăn, tu tâm tích đức mà chưa có con nên đã cầu xin Trời Phật cho một mụn con. Điều tâm nguyện đã được linh ứng, người vợ đã mang thai. Tròn ngày, tròn tháng người vợ đã sinh hạ một người con gái có mùi hương thơm ngát. Vợ chồng họ Đào rất mừng, tạ ơn Trời Phật và đặt tên con là Đào Thị Hương.

Càng lớn lên, Hương càng xinh đẹp, sắc đẹp nổi tiếng khắp vùng. Hương rất khéo tay, siêng năng mọi việc. Trời cho nàng giọng hát thật hay. Tiếng hát vút cao bao la, vang, rung như tiếng ngọc, làm cho cả vụng Ngọc lung linh, huyền ảo, mỗi lần nàng cất giọng hát, chim như ngừng hót, sóng ngừng vỗ, đất trời như lặng đi để thắm đượm hết tiếng hát của nàng. Cứ thế, giọng hát của nàng đã quyện vào đất, trời, sông, biển nơi đây.

Thời gian này, vùng biển Đồ Sơn là cửa ngõ Đông Bắc rất quan trọng của Đại Việt. Thời kỳ Chúa Trịnh Doanh trị vì. Năm 1836, Chúa Trịnh Doanh về kinh lý ở vùng biển Đồ Sơn, qua vụng Ngọc, Chúa nghe tiếng hát trong lảnh của người con gái quê, câu hát dân dã mà sao rung động lòng người liền truyền lệnh cho tìm người hát. Khi gặp, trước giai nhân sắc nước hương trời, làm nhà Chúa đắm đuối, mến yêu. Hai người quyến luyến bên nhau suốt cả tháng trời không rời xa. Khi Chúa về kinh, có hẹn nàng chờ ít ngày, Chúa sẽ đem thuyền hoa đến rước nàng về kinh. Từ đó nàng mang thai giọt máu của Chúa, trong lòng rất sợ với tục lệ… Và ngày đêm mong ngóng. Hàng Tổng biết chuyện, bắt cha mẹ nàng phạt vạ. Nhà nghèo, lấy đâu ra tiền, chúng liền trói nàng dìm xuống biển.

Nàng vật vã gào khóc, thương cho cha mẹ chưa được một ngày báo công dưỡng dục, thương cho nỗi oan tình chưa được khai hoa để báo đền ơn Chúa, nàng quì bên bờ biển ngửa mặt lên trời chắp tay than rằng: “ Phận gái thân cô, gặp Chúa yêu thương tôi đâu dám chống, nghĩa cha mẹ, họ hàng tôi đâu dám quên. Xin Trời Phật chứng giám cho lòng con. Khi con bị dìm xuống nước, nếu có oan ức, Trời Phật cho nổi lên ba lần, họ hàng hãy cho con được sống. Nếu con dối trá, thân này sẽ chìm xuống để làm gương cho đời”.

Quả nhiên, khi bị dìm xuống biển, nàng nổi lên ba lần. Mọi người đều thất kinh vì lời khấn của nàng đã thấu đến Trời Phật. Bọn hào lý không tha, phép vua thua lệ làng, chúng lấy dây thừng quấn nàng vào cối đá thủng, cắm sào, dìm cho nàng chết. Bỗng sóng to gió lớn nổi lên ầm ầm làm đứt dây thừng. Bọn hào lý không biết sao lần lượt lăn ra chết bất đắc kỳ tử. Dân làng nói rằng chúng đã bị Trời đánh, Thánh vật.

Khi Chúa mang thuyền rồng đến đón nàng mới biết nàng đã thác oan. Biết chuyện, nhà Chúa cho lập đàn giải oan và truyền lệnh cho hàng Tổng lập Đền thờ. Sự thiêng liêng của Đền làm cho bọn cướp biển không dám lần mò tới, bọn hào lý cũng không dám trắng trợn nhũng nhiễu dân lành. Đền thờ Bà, dân cả vùng đến lễ rất đông, thương người con gái kiên trinh, tiết liệt đến cả Trời Phật cũng động lòng thương.

Nơi bà ra đi là địa danh thắng cảnh tuyệt đẹp núi biển bao la. Khi về thăm Đền, Vua Tự Đức đã ban sắc phong cho Đế Bà là : ĐÔNG NHẠC ĐẾ BÀ - TRỊNH CHÚA PHU NHÂN.

Người đời sau tiếc thương và khâm phục lòng hiếu chung của Bà đã để lại nhiều bút tích ca ngợi Bà trong Đền như: ĐẾ SƠN HÀ - MỸ TAI LINH tức Người đẹp quá nên gặp tai hoạ...

Khách đến Đền thờ Bà ngày càng đông. Trong ngan ngát trầm hoa, thoang thoảng đâu đây như mùi hương của nàng, cả giọng hát dịu êm hoà trong tiến sóng rì rầm của biển Đồ Sơn, thêm mến yêu một vùng quê đất Việt, đến đây còn để chia sẻ và đồng cảm với thân phận một người con gái xinh đẹp hiền thảo, thuỷ chung mà phải chịu niềm bất hạnh…

[ Sưu tầm ]

warmoger
Cống hiến
Cống hiến

Tổng số bài gửi : 133
Join date : 24/09/2009
Age : 31
Đến từ : Nơi bác ra đi

Về Đầu Trang Go down

Re: Truyền thuyết - Giai thoại - Mại vô - Mại vô

Bài gửi by warmoger on 23/10/2009, 12:36

Truyện 3:

Câu thơ bỏ lửng


Nguyễn Du lúc còn là học trò được ông thân sinh gọi ra Thăng Long theo học một ông đồ họ Lê ở Gia Lâm, bên kia sông Nhị Hà (sông Hồng). Nguyễn Du cùng các bạn học ngày nào cũng phải qua sông bằng đò ngang để đến trường. Người chở đò là một cô gái nhà nghèo, nhưng xinh xắn và nói nhỏ nhẹ, có duyên và rất dễ thương.

Một hôm, các nho sinh đến chậm, phải chờ đò mãi. Trống trường bên kia đã điểm hối thúc. Nguyễn Du chờ sốt ruột nên làm một bài thơ nhờ bạn đưa cô lái đò để tỏ lòng mình và cũng là để thử lòng cô gái. Bài thơ như sau:

Ai ơi, chèo chống tôi sang.
Kẻo trời trưa trật lỡ làng tôi ra
Còn nhiều qua lại, lại qua
Giúp nhau rồi nữa để mà....

Câu thơ cuối, tác giả bỏ lửng có ý để chờ cô gái điền vào. Nhận được, cô gái bẽn lẽn và từ chối, nhưng về sau nể lời bạn, cô cũng thêm vào hai chữ... quen nhau.

Rồi ngày tháng dần qua, bến đợi sông chờ, một ngọn lửa thầm kín bùng lên giữa hai người, sợi dây tình khăng khít buộc chàng trai quý tộc và cô gái bình dân. Thế rồi hai người yêu nhau. Nhà thơ thổ lộ tâm tình ra bốn câu lục bát rằng:

Xưa quen nay đã nên thương
Cùng nhau chắp mối tơ vương chữ tình
Cảnh xinh xinh, người xinh xinh
Trên trời, dưới nước, giữa mình với ta.

Họ yêu nhau tha thiết, quyết chí lấy nhau, nhưng gia đình Nguyễn Du không đồng ý. Bởi lẽ đơn giản, Nguyễn Du là cậu con trai quý tộc mà cô gái là một người bình dân. Nguyễn Du bị gửi về học một ông đồ khác ở Thái Bình. Nguyễn Du buồn rầu từ giã người yêu, mối tình đầu trong trắng của mình, dằn lòng chấp nhận gia pháp khắc nghiệt của họ Nguyễn Tiên Điền.

Hơn 10 năm sau, Nguyễn Du có dịp trở lại bến cũ đò xưa thì cô gái đi lấy chồng lâu rồi, dòng nước đỏ vẫn lặng lẽ trôi. Bến đò vẫn đông người qua lại nhưng vắng bóng một người. Trông cảnh cũ nhớ người xưa, nhà thơ bùi ngùi ngâm lên bốn câu thơ lục bát để gửi gắm lòng mình:

Yêu nhau những muốn gần nhau,
Bể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mười.
Vì đâu xa cách đôi nơi.
Bến nay còn đó nào người năm xưa?

[ Sưu tầm ]

warmoger
Cống hiến
Cống hiến

Tổng số bài gửi : 133
Join date : 24/09/2009
Age : 31
Đến từ : Nơi bác ra đi

Về Đầu Trang Go down

Re: Truyền thuyết - Giai thoại - Mại vô - Mại vô

Bài gửi by warmoger on 23/10/2009, 12:43

Truyện 4:

Đối rồi đấy chứ!


Ông cụ nọ vốn người ham thích văn chương, nhưng tuổi già sức yếu, không có việc gì làm. Muốn cho đỡ buồn, cụ lập một quán hàng bên vệ đường, cũng mong gặp khách vãng lai trò chuyện cho khuây khỏa. Quán hàng sạch sẽ, khang trang. Ngay chính giữa gian nhà, cụ kê một cái án thư, trên đặt chiếc mâm gỗ, để sẵn quan tiền đồng. Trên vách, dóng với chiếc án thư là một vế câu đối đỏ, chỉ có năm chữ:

Tân quán nghênh tân khách.

(Cửa hàng mới đón chào khách mới).

Ông cụ nói với nhiều người quen thuộc:

- Đây là mấy chữ chào khách, sơ sài thôi. Nhưng các vị khách xa gần, ai đối được thì lão xin tặng luôn quan tiền, gọi là chút quà tri ngộ.

Câu đối kể ra không khó, ý nghĩa rõ ràng, nhưng lại hóa gay. Lối điệp ngữ đơn giản mà sắc sảo. Tìm cho được câu thích hợp chẳng phải là chuyện dễ dàng. Vì vậy mà hàng tháng ròng, quan tiền cứ nằm nguyên trên mâm, chưa được tặng cho ai cả.

Chiều hôm ấy, khá nhiều khách quây quần trong hàng nước của ông cụ, cười cười, nói nói. Ai cũng trầm trồ chép miệng phàn nàn vì chuyện thiếu nhân tài. Câu đối như vậy mà mãi không ai đối được. Bỗng một thầy nho thong thả bước vào, mua bát nước vối giải khát. Thầy nhìn vế câu đối trên vách, rồi lại đưa mắt nhìn quanh mọi người. Một bác hàng xóm ngồi đó, cười xởi lởi:

- Thầy nho chắc ở xa đến chưa rõ. Chúng tôi đang nói chuyện về vế câu đối trên vách đấy. Chưa có ai đối cả. Thầy nho xem có đối được thì nhận tiền thưởng của cụ tôi đi!

Thầy nho gật đầu, đưa bát nước vối lên môi, chiêu một ngụm rồi đặt xuống chõng. Đột nhiên, giữa mấy chục con mắt ngơ ngác của mọi người, thầy đĩnh đạc tới gần án thư, cầm lấy quan tiền rồi lẳng lặng quay ra, không nói một lời. Cả đám người ngồi đấy nhao nhao:

- Ô kìa, ông khách! Xách tiền đi chẳng nói chẳng rằng. Đối được không mà lờ đi thế?

Ông chủ quán cũng định nhỏm dậy. Nhưng nhìn ra, thấy anh đồ cứ bước những bước ung dung chứ không có vẻ vội vàng, không ra hạng người xấu thói. Ông cụ nghĩ ngay có thể chàng trai này có ẩn ý gì chăng. Cụ đưa mắt cho cô con gái ngồi trên góc bếp. Cô gái nhanh nhẹn đứng lên gọi với:

- Thưa thầy nho! Thầy chưa đối lại câu đối của bố em.

Chàng trai vẫn ung dung nhịp bước rất khoan thai, rất ngắn, chỉ khẽ quay đầu:

- Đối rồi đấy chứ!

Nhóm khách cười vang:

- Nào có thấy thầy nói năng câu gì đâu mà bảo đối rồi.

Thầy nho dừng lại hơi nghiêng mình hướng về ông cụ tay giơ quan tiền ra:

- Thưa cụ chủ, quan tiền của cụ vào tay tôi thế này tức là "Quý vật tặng quý nhân" chứ còn gì nữa ạ!

[ Sưu tầm ]

warmoger
Cống hiến
Cống hiến

Tổng số bài gửi : 133
Join date : 24/09/2009
Age : 31
Đến từ : Nơi bác ra đi

Về Đầu Trang Go down

Re: Truyền thuyết - Giai thoại - Mại vô - Mại vô

Bài gửi by warmoger on 23/10/2009, 13:33

Truyện 5:

Xung Thiên Thần Vương


Đời Hùng Vương thứ sáu, Ở làng Phù Đổng, bộ Vũ Ninh (nay thuộc Bắc Ninh), có nhà giàu nọ, sinh được một đứa con trai. Đứa trẻ ấy, mãi đến năm hơn ba tuổi, tuy ăn uống béo tốt, nhưng lại không biết nói cười. Bấy giờ gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, Nhà vua bèn sai Thiên sứ đi tìm người có thể đánh được giặc.
Đúng ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng dưng nói được. Nó nhờ mẹ ra mời Thiên sứ vào rồi nói rằng :
- Xin cho tôi một thanh gươm, một con ngựa. Vua không phải lo gì nữa.
Vua liền ban cho gươm và ngựa. Đứa trẻ liền phi ngựa, vung gươm tiến lên. Quan quân theo sau. Giặc bị đánh tan ở núi Vũ Ninh (núi này, nay thuộc đất Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Chúng sợ, quay giáo đánh lẫn nhau, chết nhiều lắm. Bọn sống sót thì cúi rạp xuống mà lạy, rồi cùng tôn đứa trẻ ấy là Thiên tướng và đến xin hàng. Đứa trẻ phi ngựa lên trời mà đi. Vua liền sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, luôn năm cúng tế. Sau, vua Lý Thái Tổ (làm vua từ năm 1010 đến năm 1028) phong làm Xung Thiên Thần Vương.

[ Sưu tầm ]

warmoger
Cống hiến
Cống hiến

Tổng số bài gửi : 133
Join date : 24/09/2009
Age : 31
Đến từ : Nơi bác ra đi

Về Đầu Trang Go down

Re: Truyền thuyết - Giai thoại - Mại vô - Mại vô

Bài gửi by Sponsored content Today at 05:20


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết